Thứ Ba, 3 tháng 12, 2013

Thi sĩ khá là hot của thảo lư sông Ngọc.

Rơm rạ nên ông dùng hình tượng "thảo lư" kể cũng không sai

Thi sĩ của thảo lư sông Ngọc

Chúng tôi đánh xe xuống nhà ông. Như thế Việt Nam mình mới xứng đáng là tổ quốc ngàn năm văn hiến chứ!. Cái nhìn của "người trần mắt thịt" thì sông Ngọc chẳng có gì đặc biệt đáng đưa vào văn chương. Đi lại chậm chạp khó khăn. Cạnh một bình hoa nhỏ. Nhất là vào dịp áp Tết. "Vía" của ông "lành". Quãng thời gian dài tham dự quân đội và làm cán bộ nhân viên.

Trong số những nhà thơ mà tôi quen biết. Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Những ngày ấy. Với đồng loại. Ăn một miếng bánh chưng vừa vớt từ trong nồi ra còn nóng hổi. Tổng thư ký Hội và một số nhà văn khác trúng đại biểu Quốc hội. Tự dưng con nước màu xanh lam từ sông Hồng đổ về cuồn cuộn.

Đoàn Văn Cừ thì lại khác. Mỗi lần nhận được giấy mời. Nhưng khi ông phát biểu xong. Ông thường chuyển từ ý này sang ý kia một cách đường đột.

Dù vắng bóng ông đã gần mười năm. Y như một con chiên trước ngôi đền thánh vậy.

Ở Nam Định chỉ có ba cây bút là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam: Chu Văn. ". Trừ đôi tai hơi bị nặng tai. Ông thường để tờ báo. Nao nức lắm. Các ý kiến của ông đều mang tính xây dựng cao. Nhưng xung quanh nhà thì vườn tược ngồn ngộn những cây cối. Rồi bão táp xô dạt biến ông trở thành một hương sư; cách mệnh đến cho ông trở nên một sĩ quan quân đội. Năm nào Đoàn Văn Cừ cũng viết bài cho báo Tết từ rất sớm.

Đoàn Văn Cừ viết cho tôi một bức thư dài. Đôi khi rất hóm hỉnh. Nhà văn Chu Văn về cõi với tiên sư. Người nào gặp hạn. Chỉ còn lại Đoàn Văn Cừ và tôi. Trong ngôi "thảo lư" bên bờ sông này. Thành ra mọi thông báo giao thông. Nhưng mỗi lần viết thư cho tôi. Ông coi Hội Nhà văn Việt Nam là một chốn thiêng. Sự nghiệp thơ ca của ông thăng hoa đốn ở thời kỳ Thơ Mới và thời đoạn cuối đời khi ông đã về hưu nơi thảo lư - sông Ngọc.

Dù chỉ là tờ báo tỉnh. Mỗi khi nói về cái thôn Đô Quan. Chân tay hết thảy tìm ấm pha trà. Bởi thế có người gọi ông là thi sĩ của mùa xuân là thế. Sẽ mang lại vận may. Khi viết cho bạn bè. Một viên chức quốc gia. Cái hôm được tin nhà văn Vũ Tú Nam. Cuốn tạp chí có bài Tết ngay ngắn trên bàn viết.

Không phải báo nào cũng chịu đăng bài của ông. Dõi theo những mảng bèo bập bồng hoa tím trôi bập bềnh như đi trẩy hội trên sông. Thi sĩ Đoàn Văn Cừ ở tuổi 74 (ông sinh ngày 25 tháng 11 năm 1913; Hội Nhà văn Việt Nam đang chuẩn bị tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông vào ngày 23 tháng11 này).

Chim ngói bay về. Nhưng những bài thơ mang không khí tết và mùa xuân thường thành công hơn. Tràn vào những cánh đồng ải. Trong cuốn "Thi nhân Việt Nam".

Tôi chuyển ngành về Hội văn chương nghệ thuật tỉnh Hà Nam Ninh (cũ). Ngôi nhà gỗ xoan "tư hàng xà" của gia đình Đoàn Văn Cừ không còn là lều cỏ nữa. Kết nối giữa các ý. Ông lại trở về với thảo lư - sông Ngọc sống với bà con xóm ngõ và tiếp chuyện làm thơ chứ chẳng màng nhà cao cửa rộng nơi phồn hoa đô hội.

Sau đó ông mới nói những chuyện cần nói bằng một giọng văn khiêm cung. Đoàn Văn Cừ phải dùng phương pháp cổ điển là viết thư. Thường thì đã tóc bạc da đồi mồi. Vui nhộn. Ông cung kính với con người như thế nào thì ông cũng trọng thị văn học nhường ấy. Rồi bật ra vấn đề. Cho đến nay. Miệng lẩm bẩm làm thơ. Huyện Nam Ninh (cũ).

Năm 1993. Đoàn Văn Cừ tỏ nỗi buồn thương như người đó là anh em ruột rà của ông vậy. Đoàn Văn Cừ và tôi. Chính vì cốt cách Đoàn Văn Cừ như thế nên anh em biên tập coi ông như một "sứ giả của mùa xuân".

Sông Ngọc đang kiệt trơ đáy. Ông thường thích lắng tai người khác phát biểu hơn là ông nói. Nhưng cho đến nay khó tìm thấy một bài thơ nào bộc lộ cái chợ tết mang không khí mùa xuân và hồn quê xứ Bắc lao xao.

Bìa một số tác phẩm thơ của nhà thơ Đoàn Văn Cừ. Thâu tóm lại. Rồi chung cuộc khi nghỉ hưu. Mắt mục kỉnh đeo hơi trễ. Ảnh chụp năm 2003 tại nhà riêng của thi sĩ Đoàn Văn Cừ. Nhưng số báo Tết thì không thể không có sự góp mặt của ông. Yêu mùa xuân đất Bắc bằng Đoàn Văn Cừ.

Ốm đau. Ông còn cao hứng đọc bài được đăng để bạn nghe cho có không khí mùa xuân. Mỗi lần viết thư cho tôi. Những năm đầu Đoàn Văn Cừ mới về cõi (ông mất ngày 27 tháng 6 năm 2004). Tuổi ấy ở xứ ta đã được coi là thượng thọ. Ngày tùng san phát hành cũng là dịp tất niên. Ông còn đạp xe hơn 20 cây số từ thôn Đô Quan.

Bề ngang đủ cho hai chiếc thuyền dọc tránh nhau hay cho một chiếc vó bè hạ xuống.

Nhưng khi về đến nơi thăm thì thấy nó rất thường ngày. Tôi là một trong số người được ông gửi thư nhiều nhất.

Ông thường rất có trách nhiệm với những điều mình phát biểu. Đăng cho có không khí mùa xuân

Thi sĩ của thảo lư sông Ngọc

Nhiều dạng thời tiết diễn ra trong bốn mùa. Nó vẫn có một đường dây thống nhất. Bởi nơi đây.

Thành đạt. Tật bệnh. Nó đã được lợp mái bằng loại ngói tây. Chúng tôi coi sự góp mặt của Đoàn Văn Cừ trong số báo Tết từa tựa như người xông đất. Ông đều có một lối xử sự ấy. Người đã lừng danh như cồn và người đang tập cầm bút. Hoa cỏ. Ông yêu đến độ ngắm một nhánh hoa đào vừa e lệ nụ. Đoàn Văn Cừ có một cách ứng xử thực lòng và kính cẩn. Tháng 11/2013. Chẳng thế mà từ nơi thảo lư - sông Ngọc này.

Chỉ tiếc. Hết đứng lên lại ngồi xuống. Ông cũng đưa ra cho họ xem. Những lần như thế. Các tác giả Hoài Thanh và Hoài Chân đánh giá ông bằng những lời tôn quý. Thi sĩ Đoàn Văn Cừ và thi sĩ Hữu Thỉnh. Nghe đâu tôi vẫn chưa hết cảm giác đó.

Đoàn Văn Cừ thường gọi bằng một biệt danh do chính ông đặt: Thảo lư - sông Ngọc (ngôi lều cỏ và con sông Ngọc). Người nào mà thăng tiến. Chuẩn bị cho vụ cấy lúa xuân. Ông coi tôi như một nhân vật trung gian kết nối cung cấp thông tin cho ông.

Thực ra. Xuân về. Bạn văn đến. Thời điểm ấy. Hàng đầu từ trái sang: Tác giả bài viết. Hai khóe mắt ông cũng rưng rưng lệ. Hà Nội. Hồi ấy tôi được giao cương vị quản lý tờ tạp chí văn nghệ của tỉnh. Đoàn Văn Cừ cũng rất hân hoan phấn khích. Là ông đã viết.

Người chưa về quê ông. Được lưu giữ trong trí tưởng nhiều đời bạn đọc.

Sự yên hàn cho tập san trong cả năm. Đăng để mang điều may mắn hanh thông về cho tùng san. Về thứ bực. Những số tập san ra thường kỳ. Trước khi thư chấm dứt. Tìm diêm châm thuốc. Hiếm có ai yêu cái Tết cựu truyền. Sau bão rươi. Chưa có một sợi bạc. Cứ mỗi độ Tết đến. Ông viết cho đến qua tiết Giáng sinh. Ông thường hỏi thăm đủ mặt những người mà ông thấy cấp thiết.

Ông thường ghi: Ngày … tháng … năm…rồi mới ký tên kèm theo biệt danh ấy "Thi hữu thảo lư - sông Ngọc Đoàn Văn Cừ". Sau khi ông viết những trang thơ đầu tiên. Đoàn Văn Cừ viết nhiều đề tài. Tóc ông vẫn đen nhánh như mun. Năm nào có bài đăng báo.

Dù bài năm ấy Đoàn Văn Cừ viết hay hoặc chưa hay. Nó chỉ là một con sông nhánh chảy dọc những cánh đồng.

Lúa mùa ngoài đồng bắt đầu chín. Có bài của Đoàn Văn Cừ hay không. Xã Nam Lợi. Chẳng thế mà bài thơ "Chợ tết" viết từ thời Đoàn Văn Cừ còn trẻ.

Nghe tiếng con sông Ngọc trong thơ ông thấy nó có gì đó thật ấn tượng. Trong đầu tràn trề xúc cảm. Trong đó có đoạn: "Tôi vui lắm. Vào Thời điểm ấy. Ai đến chơi. Đằm thắm hơn thi phẩm ấy.

Ông cảm động đến độ miệng cứ díu lại không nói nên lời. Tuổi ấy. Bước đủng đỉnh trên bờ. Nhưng nếu gặp vấn đề gì cần có chính kiến của ông thì ông nói rất hăng hái. Chúng tôi không quan hoài lắm. Ông đã sáng tác những áng thơ đầu đời. Thế là tôi lại tìm bài cũ của ông mang ra đăng lại. Tết nhất.

Nhà thơ họ Đoàn chắp hai tay sau lưng. Ông đóng bì thư gửi cho các báo. Nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Vào hội trường. Nam Trực (mới) lên thành phố Nam Định họp Ban chấp hành Hội. Giới nhà văn chúng ta có ngôn ngữ trong Quốc hội. Ông sáng tác rất ít.

Tai không nghe được điện thoại. Bao giờ ông cũng mở đầu bằng câu kính cẩn: "Kính gửi nhà văn Tổng biên tập Lê Hoài Nam". Chúng tôi đều đăng. Mang theo chút quà Tết và mấy cuốn tập san. Tôi thường mang cảm giác trống vắng. Riêng tập san của chúng tôi. Tôi còn ít tuổi hơn con út của Đoàn Văn Cừ.

Năm 1987. Đoàn Văn Cừ tỏ thái độ thành thật mừng cho họ. Tiết trời có chút heo may. Viết xong. Nhưng với Đoàn Văn Cừ thì nó là một trong những kỳ quan của quê hương ông. Tưởng như chúng chẳng hợp gì với nhau.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét