Về đội ngũ sáng tác, các văn nghệ sĩ đã được bảo đảm tự do sáng tạo, được chú trọng bảo vệ bản quyền về sáng tác, trình diễn

Nhà văn ĐỖ KIM CUÔNG Phó Chủ tịch trực liên hợp các Hội VHNT Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình đó cũng thể hiện những hạn chế nhất quyết, phần nào chưa bắt kịp những biến động tầng lớp và tình hình phát triển của giang san, thiếu vắng các tác phẩm có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật, trong khi công tác chỉ đạo, quản lý, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ còn một số bất cập. Việc xét tặng giải thưởng hằng năm của các Hội VHNT địa phương còn chưa hợp nhất do còn gặp khó khăn về ngân sách.
Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chỉ đạo, quản lý VHNT giờ là khuyến khích, động viên văn nghệ sĩ sáng tạo để có nhiều tác phẩm, công trình có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, đề đạt sâu sắc hiện thực tổ quốc ta trong tranh đấu cách mệnh, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền giang sơn; khuyến khích các sáng tác về đề tài truyền thống yêu nước, các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như các đề tài phản ảnh sự nghiệp đổi mới của tổ quốc ta hiện thời; khuyến khích sự tự do sáng tạo của người nghệ sĩ, hướng các tác phẩm tới các giá trị chân - thiện - mỹ, giàu tính nhân bản, phê phán sâu sắc các thói hư tật xấu, tệ lậu xã hội làm suy đồi đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Tác phẩm ít có chiều sâu về tư tưởng, giá trị nhân bản nhưng lại được các cơ quan truyền thông truyền bá rộng rãi có tác động không nhỏ đến gu thẩm mỹ của công chúng, nhất là xã hội bình dân và giới trẻ. Kiên quyết đẩy lùi các khuynh hướng nghệ thuật phản dân tộc, các bộc lộ của "diễn biến hòa bình" trên chiến trận VHNT.
Đồng thời, vẫn tồn tại dằng dai thiên hướng thương nghiệp hóa, tiêu khiển tầm thường ở một số lĩnh vực, chi phối một bộ phận công chúng âm nhạc, điện ảnh, sàn diễn. Các báo, tạp chí văn nghệ từ trung ương đến địa phương, do kinh phí ít, tự bươn chải, nên chưa truyền bá được đến công chúng. Cần có thái độ ứng xử đúng, đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác quản lý VHNT là công chức.
Trên cơ sở đó, từ trung ương đến địa phương cần củng cố tổ chức các Hội VHNT; bố trí cán bộ làm thuê tác VHNT nắm vững quan điểm, đường lối, các chính sách về văn hóa, văn nghệ của Đảng và Nhà nước; tập hợp được hàng ngũ văn nghệ sĩ, cổ vũ sáng tác để có được những sản phẩm văn hóa, văn nghệ tốt phục vụ quần chúng.
Yêu cầu Bộ Nội vụ có sự chỉ đạo trong ngành, giải quyết biên chế đủ cho các Hội VHNT chuyên ngành Trung ương và các hội địa phương, cụ thể trước mắt là Hội liên hợp văn chương nghệ thuật Hà Nội, Liên hiệp các Hội văn chương nghệ thuật TP Hồ Chí Minh với biên chế tối thiểu là 25 đến 30 người và ở các Hội VHNT các tỉnh, đô thị từ 12 đến 15 biên chế.
Trong nghiên cứu, lý luận, phê bình, cùng với quá trình đẩy lùi thiên hướng phủ nhận thành tựu của văn nghệ cách mạng, kháng chiến, việc bền chí bảo vệ và phát triển đường lối văn chương nghệ thuật của Đảng cũng được tăng cường.
Tác phẩm của họ tự xuất bản, tổ chức trình diễn, làm phim theo đơn đặt hàng của các hãng tư nhân. Ư 5, về cơ bản, các tác phẩm văn nghệ đã đi đúng hướng, phản chiếu hiện thực xây dựng và bảo vệ giang san XHCN bữa nay. Một số đề án về văn chương nghệ thuật đã được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn nhưng đến nay vẫn chưa được bộ, ngành thiết chế hóa cụ thể.
Các cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng chương trình hành động cụ thể, với nhiều đề án liên quan đến VHNT để tổ chức thực hiện, quan hoài tẩm bổ đội ngũ văn nghệ sĩ, đầu tư kinh phí, nắm bắt tâm can, diễn biến tư tưởng của văn nghệ sĩ để có biện pháp lãnh đạo kịp thời, tạo không khí kết đoàn, đồng thuận, tán thành cao trong xã hội. Biểu diễn nghệ thuật trong Ngày thơ Việt Nam.
Các tác giả tiếp tái hiện hiện thực cách mệnh và hai cuộc kháng hào chiến đấu hùng của dân tộc (từ năm 1945 đến năm 1975) cùng lịch sử kiên cường bất khuất và những truyền thống tốt đẹp của dân chúng ta. Trong các chỉ đạo và quản lý cần nắm chắc tổ chức các Hội VHNT, song song phải thực hiện các giải pháp về cơ chế, chính sách đối với văn nghệ và văn nghệ sĩ như Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới đề nghị.
Việc Chính phủ tiếp tục "tương trợ cho các công trình Văn học nghệ thuật và báo chí tuổi 2011 - 2015", đặt hàng các tác phẩm VHNT, thật sự là nguồn động viên đối với văn nghệ sĩ và báo chí cả nước. Chủ trương của Đảng và quốc gia ta là phát triển VHNT trong cơ chế thị trường, định hướng XHCN, nên chi hoạt động VHNT cần có sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Còn hạn chế. Thời kì tới, các bộ, ngành hệ trọng như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các ban của Đảng cần kết hợp xây dựng cơ chế chính sách về mặt tổ chức cho hoạt động VHNT.
Tuy kinh phí hỗ trợ còn ít nhưng đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho các hoạt động văn nghệ của cả nước, nhất là đối với các địa phương có mức thu nhập thấp và vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
Quản lý Nhà nước về hoạt động VHNT còn thả lỏng, nhất là hoạt động xuất bản, trình diễn. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đúng vai trò của VHNT góp phần củng cố trận địa tư tưởng của Đảng.
Bên cạnh đó, mặt trận văn nghệ thời kì qua còn mô tả những nhược điểm. Trước tiên là giải quyết chế độ phụ cấp cho các cán bộ đang công tác ở các Hội VHNT như các cơ quan hành chính khác.
Nội dung tác phẩm đẵn đề cập tới hiện thực đời sống xã hội hiện đại với cách nhìn, cách nghĩ của giới trẻ. Hoạt động sáng tác còn có biểu thị dễ dãi chấp thuận với tình trạng nghiệp dư, "ăn xổi ở thì", chiều theo thị hiếu, thậm chí lập dị, ngộ nhận dưới danh nghĩa các trào lưu thời thượng như: hậu đương đại, giải cấu trúc, đại tự sự.
Trước tình hình có nhiều diễn biến phức tạp, nhìn chung, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền từ trung ương đến địa phương, phần lớn anh chị em văn nghệ vẫn tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới và những quyết sách của Đại hội Đảng lần thứ XI vạch ra; bền chí, nhiệt huyết với công việc sáng tạo của người nghệ sĩ, gắn bó với các giá trị truyền thống yêu nước và cách mạng, khẳng định các giá trị đạo đức, nhân văn của dân tộc, góp phần quan trọng cho sự ổn định chính trị - tầng lớp của giang sơn.
Cá biệt có văn nghệ sĩ chưa đề cao bổn phận xã hội, công dân, suy giảm lòng tin vào sự nghiệp cách mạng, bộc lộ sự động dao hiềm nghi về lý tưởng và niềm tin về sự phát triển của giang san.
Văn nghệ cũng tham gia phê phán khá mạnh mẽ những bị động trong tầng lớp như tình trạng mất dân chủ, tham nhũng, lộng quyền và lạm quyền, thoái hóa biến chất về lý tưởng, đạo đức, lối sống vị kỷ, không tình nghĩa, chạy theo đồng tiền và ích lợi vật chất thiển cận.
Còn một bộ phận văn nghệ sĩ trẻ, có khả năng sáng tác, có tác phẩm, hiện thời hành nghề tự do, không muốn vào Hội. Biên chế cũng như ngân sách hoạt động cho các Hội còn thấp so với nhiệm vụ được giao. Báo, tùng san, nhà xuất bản của các Hội còn gặp nhiều khó khăn trong phát hành, xuất bản mà chưa được tháo gỡ, giải quyết phù hợp tình hình mới.
Trong hoạt động sáng tạo VHNT từ khi có NQT. Biên chế, cơ sở vật chất của các Hội VHNT ở Trung ương và địa phương phải đủ mạnh để thực hành công tác VHNT và phải xem công tác này là một trong những nhiệm vụ trọng điểm của Đảng và của các cấp ủy đảng, chính quyền.
Sự kết hợp giữa các Hội văn chương nghệ thuật với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch còn lỏng lẻo, thiếu đồng bộ trong việc giám định, đánh giá, tư vấn các vấn đề liên can đến VHNT. Trong chỉ đạo điều hành còn thiếu sự quan tâm đúng mức đến việc kiện toàn mô hình tổ chức các Hội VHNT ở địa phương, cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các Hội còn nghèo nàn, kinh phí phục vụ cho hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Một số ngành nghệ thuật như ca múa nhạc, điện ảnh bước đầu quan tâm cuộn lực lượng văn nghệ sĩ Việt Nam yêu nước tiến bộ đang định cư ở nước ngoài về nước tham dự sáng tác, trình diễn, phát huy những giá trị truyền thống văn nghệ của cộng đồng dân tộc Việt Nam; thực hành cộng tác giao lưu văn hóa với nước ngoài qua dịch thuật, xuất bản, lưu diễn, tổ chức trại sáng tác quốc tế ở Việt Nam và dự các liên hoan văn nghệ, các cuộc thi trình diễn ở nước ngoài.
Văn nghệ cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, cái mới tiến bộ, tạo lập những tấm gương tiêu biểu của con người thời đại: người cần lao sáng tạo (công nhân, dân cày, trí thức), những người làm giàu chân chính cho đất nước (doanh nhân, nhà doanh nghiệp, nhà kinh dinh), bảo vệ giang sơn và giữ gìn an ninh tầng lớp (đội viên lực lượng vũ trang, công an nhân dân). Công tác văn hóa, VHNT chỉ thực sự đáp ứng nhiệm vụ tuyên truyền chính trị của Đảng và Nhà nước khi nâng cao được nhận thức cho các cấp ủy đảng và chính quyền về vai trò, vị trí của văn hóa, văn nghệ; xác định rõ mô hình tổ chức Hội VHNT là một khâu quan yếu trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước.
Quy định hệ số lương của nghệ sĩ trình diễn (xiếc, múa, sàn diễn) chưa tương hợp với đặc thù nghề cho nên anh chị em còn nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến niềm ham mê sáng tạo, cống hiến trong hoạt động nghề nghiệp.
Một bộ phận lớn văn nghệ sĩ (những người đã có tuổi, gắn bó với cách mạng và kháng chiến) là lực lượng nòng cột trong các Hội Văn học nghệ thuật vẫn giữ vững được quan điểm sáng tác của Đảng. Những tác phẩm có giá trị cao về nội dung, nghệ thuật của những cá tính sáng tạo độc đáo còn ít.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét